Tập huấn - Hội thảo về sử dụng thuốc trừ nấm

Thứ tư - 12/02/2020 03:16
Chiều ngày 11/02/2020, tại Hội trường của Viện, Viện Cây ăn quả miền Nam – đã tổ chức Tập huấn – Hội thảo về “Sử dụng thuốc trừ nấm” cho 30 cán bộ trẻ của Viện do TS. Bob Fullerton (Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Cây trồng và Thực phẩm New Zealand). Mục đích nhằm lưu ý việc sử dụng thuốc trừ nấm cần phải biết hoạt chất để biết khả năng kiểm soát mầm bệnh thông qua cơ chế tác động, nhóm hóa học và tính kháng thuốc.
TS. Bob Fullerton - Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Cây trồng và Thực phẩm New Zealand
TS. Bob Fullerton - Chuyên gia của Viện Nghiên cứu Cây trồng và Thực phẩm New Zealand

Tính đặc hiệu mầm bệnh: Một số thuốc trừ nấm sẽ chỉ kiểm soát được các nhóm sinh vật cụ thể. Phổ biến nhất là những loại thuốc được sử dụng để kiểm soát nhóm nấm Oomycetes (nấm Phytophthora spp., Pythium spp., Pseudoperonospora spp., …; vì không phải là nấm thật, có cellulose vách tế bào; nấm thật có chitin), rất có hiệu quả nhưng lại không có tác dụng đối với nấm thật (Fusarium spp., Botryodiplodia spp., …), Ví dụ: metalaxyl, aluminium phosphite, dimethomorph, …

Cơ chế tác động 

1. Nhóm thuốc phổ rộng: Thường sẽ có tác dụng bảo vệ, chỉ hoạt động trên bề mặt của cây (lá, cành hoặc quả) bằng cách ngăn chặn sự nảy mầm và xâm nhiễm của mầm bệnh. Nhóm thuốc này là chất độc cho tế bào, ảnh hưởng đến nhiều con đường trao đổi chất sẽ tiêu diệt gần như tất cả các loại nấm, thường không dễ bị kháng thuốc; ví dụ: thuốc gốc đồng, captan, mancozeb, …

2. Nhóm thuốc chuyên biệt: Thường sẽ có tác dụng đặc hiệu, thấm sâu (lưu dẫn nhưng không lưu dẫn từ lá này sang lá khác), có thể hoạt động trên bề mặt và thấm sâu vào cây, tiêu diệt mầm bệnh sau khi xâm nhiễm. Nhóm thuốc này chỉ phá vỡ một lộ trình trao đổi chất cụ thể hoặc một bước duy nhất trong quá trình chuyển hóa; các loại thuốc diệt nấm khác nhau hoạt động trên các quá trình hoặc quá trình trao đổi chất khác nhau. Ví dụ: Benzimidazoles (carbendazim, benomyl, thiophanate methyl), triazoles và strobilurin

Nhóm hóa chất: Trong cùng 1 nhóm hóa chất sẽ có cùng một cơ chế tác động, một số loại nấm dễ bọc phát tính kháng (kháng chéo hay kháng cả nhóm) với các loại thuốc trong cùng 1 nhóm, do đó cần nồng độ cao hơn để kiểm soát (nông dân thường tăng liều). Ví dụ như nhóm Benzimidazoles (benomyl, carbendazim, thiophanate methyl); nhóm Strobilurin - QoI (methyl kresoxim, azoxystrobin, trifloxystrobin); nhóm Triazoles (tebuconazole, propiconazole, hexaconazole).

Tính kháng thuốc trừ nấm là một vấn đề phổ biến đối với thuốc trừ nấm, đề cp đến tính nhạy cảm một quần thể mầm bệnh sang ít nhạy cảm với thuốc trừ nấm (đột biến tự nhiên ở một bước trao đổi chất duy nhất). Ban đầu có thể có rất ít trong số những đột biến này trong quần thể; việc sử dụng liên tục cùng một loại thuốc diệt nấm sẽ tiếp tục loại bỏ các cá thể nhạy cảm nhưng cho phép các cá thể kháng thuốc tồn tại và sinh sản. Nhóm thuốc chuyên biệt dễ bị kháng thuốc hơn so với các thuốc trừ nấm phổ rộng.

Chất hoạt động bề mặt có nhiều loại khác nhau như giúp lan rộng hay giúp bám dính hay giúp bảo vệ khỏi rửa trôi hay phá vỡ của ánh sáng mặt trời hay hỗ trợ hấp thu.

 

Nguồn tin: SOFRI

LIÊN KẾT
Thống kê truy cập
  • Tổng lượt truy cập246,062
  • Đang truy cập16
  • Hôm nay571
  • Tháng hiện tại17,338
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây